Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng bền vững gắn liền với chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo, việc triển khai hiệu quả Nghị quyết 57-NQ/TW trở thành một trong những trọng điểm chiến lược. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình thực hiện vẫn còn tồn tại nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là vấn đề giải ngân nguồn lực tài chính. Bài viết dưới đây sẽ phân tích chi tiết các hạn chế, nguyên nhân và những giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số – những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến thị trường bất động sản cao cấp và đầu tư tài sản trong năm 2026.
Nghị quyết 57-NQ/TW đặt ra mục tiêu biến khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo thành động lực phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, báo cáo triển khai cho thấy có 6 nhóm hạn chế cần tập trung xử lý. Một trong những vấn đề nổi bật là sự thiếu cụ thể trong vai trò dẫn dắt của các bộ, ngành đối với địa phương, khiến việc lựa chọn hướng phát triển công nghệ chưa phù hợp với lợi thế riêng biệt của từng vùng miền.

Nhiều địa phương, mặc dù có nền tảng kinh tế nông nghiệp hoặc công nghiệp hỗ trợ, lại đăng ký phát triển các lĩnh vực công nghệ lõi như chip bán dẫn, blockchain hay công nghệ lượng tử – những lĩnh vực đòi hỏi nguồn lực nhân lực, hạ tầng và hệ sinh thái doanh nghiệp rất lớn. Điều này dẫn đến khoảng cách lớn giữa khát vọng công nghệ cao và năng lực thực thi thực tế.
Đáng chú ý, việc chuyển đổi từ “đăng ký mục tiêu” sang phát triển sản phẩm cụ thể còn chậm và dàn trải. Nhiều đề xuất xây dựng trung tâm siêu máy tính, AI hay công nghệ sinh học chưa đi kèm với nguồn lực tài chính, nhân lực và doanh nghiệp dẫn dắt, khiến các dự án khó có thể đi vào thực chất và thương mại hóa.
Về mặt tài chính, năm 2026, ngân sách dành cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được phê duyệt lên tới 95.000 tỷ đồng, trong đó Bộ Tài chính đã phân bổ 71.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, tính đến giữa năm, tỷ lệ giải ngân mới đạt khoảng 21% ngân sách phân bổ và chỉ 16% số giao dự toán. Nhiều địa phương như Đồng Tháp, Sơn La chỉ giải ngân dưới 3% vốn đầu tư, cho thấy sự trì trệ trong tổ chức thực hiện.

Điều này không chỉ làm chậm tiến độ các dự án công nghệ chiến lược mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư công, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đầu tư công 2026 với nhiều dự án hạ tầng trọng điểm như cao tốc, sân bay Long Thành, metro và các khu công nghệ cao.
Hơn nữa, cơ chế tài chính hiện nay còn thiếu linh hoạt, chưa tạo đủ công cụ đầu tư chấp nhận rủi ro có kiểm soát cho đổi mới sáng tạo. Trong khi đó, các lĩnh vực như AI, bán dẫn, vật liệu mới đòi hỏi nguồn vốn mồi và sự hỗ trợ tài chính đặc thù để phát triển bền vững.
Trước thực trạng trên, các bộ, ngành đã và đang tập trung hoàn thiện thể chế tài chính nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc. Việc ban hành nhiều luật, nghị định, thông tư liên quan đến tài chính, đầu tư, đấu thầu và thuế đã tạo hành lang pháp lý vững chắc cho công tác lập dự toán, phân bổ và giải ngân nguồn lực.

Bộ KH&CN phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để xây dựng dự thảo nghị quyết của Chính phủ xử lý vướng mắc trong chi sự nghiệp khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; đồng thời nghiên cứu sửa đổi Luật Khoa học, Công nghệ và đổi mới sáng tạo, hoàn thiện Nghị định hướng dẫn Luật Chuyển đổi số và tham mưu Chỉ thị của Thủ tướng nhằm thúc đẩy tiến độ triển khai các nhiệm vụ.
Bộ Tài chính cũng đã đổi mới cơ chế lập ngân sách, giao Bộ KH&CN quản lý chính sách, chế độ chi tiêu trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đồng thời sửa đổi quy định về đầu tư công và thuế theo hướng phân cấp, ưu đãi và tạo thuận lợi hơn cho các dự án đổi mới sáng tạo.
Đặc biệt, cơ cấu phân bổ vốn đang được rà soát để phù hợp hơn với mục tiêu phát triển: hiện vốn dành cho khoa học công nghệ chiếm khoảng 60%, chuyển đổi số chiếm 38,5%, nhưng tỷ lệ dành cho nghiên cứu công nghệ chiến lược và đổi mới sáng tạo còn rất thấp, chỉ khoảng 1,5% mỗi lĩnh vực. Việc ưu tiên nguồn vốn cho các nền tảng số, cơ sở dữ liệu và công nghệ chiến lược được xem là bước đi quan trọng nhằm tạo ra hiệu quả rõ nét và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ thúc đẩy tăng trưởng GDP 2026 mà còn tạo ra những thay đổi sâu sắc trong hạ tầng đô thị và quy hoạch vùng. Các dự án hạ tầng trọng điểm như metro, cao tốc, sân bay Long Thành, khu công nghệ cao và đô thị thông minh sẽ được hưởng lợi trực tiếp từ nguồn lực tài chính được giải ngân hiệu quả hơn.
Đối với nhà đầu tư bất động sản cao cấp, việc theo dõi sát sao tiến độ giải ngân và triển khai các dự án công nghệ, hạ tầng sẽ giúp định hướng chiến lược đầu tư hiệu quả, nhất là trong các khu vực đô thị vành đai, siêu đô thị như Thủ Thiêm, Biên Hòa - Vũng Tàu, Bến Lức - Long Thành. Sự phát triển của các khu công nghệ cao và đô thị thông minh cũng tạo ra nhu cầu lớn về nhà ở chất lượng cao, biệt thự, dinh thự, và các loại hình bất động sản nghỉ dưỡng, du lịch cao cấp.
Hơn nữa, dòng vốn đầu tư công được giải ngân nhanh và hiệu quả sẽ góp phần giảm áp lực lạm phát, ổn định lãi suất vay mua nhà và tiền gửi, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường tín dụng và đầu tư tài sản. Nhà đầu tư cũng cần cân nhắc các tín hiệu vĩ mô như chính sách FED, biến động giá dầu thô, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung, và xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu để điều chỉnh danh mục đầu tư phù hợp.
Việc giải ngân hiệu quả nguồn lực theo Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ là thước đo năng lực quản lý và điều hành của các bộ, ngành, địa phương mà còn là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản cao cấp và đầu tư tài sản. Liệu Việt Nam có thể tháo gỡ các điểm nghẽn về cơ chế tài chính và nâng cao năng lực thực thi để hiện thực hóa khát vọng công nghệ cao? Nhà đầu tư cần chuẩn bị những chiến lược nào để tận dụng tối đa cơ hội từ xu hướng phát triển này trong năm 2026 và những năm tiếp theo?
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh lao động sáng tạo là nguồn lực trọng yếu, định hướng phát triển kinh tế và bất động sản bền vững. Bài viết phân tích tác động vĩ mô và...
Việt Nam tập trung phát triển hệ sinh thái bán dẫn cạnh tranh toàn cầu, mở ra cơ hội đầu tư công và bất động sản công nghiệp trong giai đoạn 2026-2045. Phân tích xu hướng vĩ mô, vi mô...